Phân tích trao duyên – 3 Bài văn mẫu đạt điểm Tối Đa

Mọi người chắc hẳn đã từng nghe nói đến tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng có lẽ vẫn có người chưa hiểu hết rõ về tác phẩm đặc biệt là đoạn trích “Trao duyên”. Dưới đây là bài tổng hợp về phân tích Trao duyên hi vọng mọi người sẽ hiểu rõ hơn về tác phẩm. Bài viết gồm 2 phần: phần 1 phân tích về bài thơ trao duyên, phần 2 là 3 bài văn mẫu trao duyên.

phân tích trao duyên

A. Phân tích trao duyên

I. Tóm tắt sơ lượt về trao duyên

Truyện Kiều là một tác phẩm vô cùng dài, do đó mình sẽ tóm tắt về đoạn trích Trao duyên trước để mọi người nắm sơ về nội dung của đoạn trích

  1. Tìm hiểu xuất xứ

Đây là một trong những đoạn ở vị trí mở màn cho cuộc sống lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt giam do có kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót quan lại cứu cha và em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình dù thế cũng đành, nhưng cảm thấy có lỗi với Kim Trọng. Phải làm thế nào cho tình nhân đỡ khổ, tâm lý mãi, trong đêm sau cuối, nàng quyết định hành động nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng .

Đoạn trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều.

  1. Tìm hiểu bố cục đoạn trích

Gợi ý :Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ :Đoạn 1 ( 14 câu đầu ) : Thuý Kiều “ trao duyên ” cho Thuý Vân .

  • Kiều nói với em về nỗi xấu số của mình .
  • Nhờ em và trao kỉ vật tình yêu cho em .

Đoạn 2 ( 20 câu còn lại ) : Tâm trạng Kiều sau khi “ trao duyên ” .

  • Kiều mong ước “ trở lại ” gặp lại người yêu .
  • Kiều hướng đến sự đồng cảm với tình nhân .
  • Tâm trạng vô vọng của Kiều bởi xích míc trong tâm hồn nàng ( tình yêu sâu nặng và sự chia biệt vĩnh viễn ) vẫn không hề xử lý .
  1. Phân tích nghệ thuật xây dựng lời thoại và độc thoại của nhân vật

Đoạn trích là một đoạn lời thoại hoàn chỉnh của nhân vật. Nhưng tính chất đối thoại đổi thay dần theo diễn biến tâm lí và cảm xúc của Kiều. Thoạt đầu xưng hô “chị em”; nhưng từ dòng 15 đến dòng 26, Kiều cảm thấy hạnh phúc đời mình đến đây chấm dứt nên tự xưng mình là “người mệnh bạc”, “người thác oan”, “hồn”. Từ dòng 27 cho đến hết, Kiều như quên đang nói với em, chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt, đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tưởng tượng. Dòng 27 – 28 là lời than, dòng 29 – 30 là lời nói với Kim Trọng trong tưởng tượng, dòng 31 – 32 lại là lời than, dòng 33 – 34 lại nói với Kim Trọng trong tưởng tượng. Ở đây, dấu hiệu độc thoại nội tâm là người đối thoại trực tiếp (Thuý Vân) không hiện diện nữa. Cho dù Thuý Vân vẫn còn ngồi ở đó, nhưng lời của Kiều không hướng tới nàng. Kiều lúc này chỉ sống với chính mình, với người yêu của mình nên lời nàng hướng vào nội tâm, thể hiện nỗi đau đớn đến quằn quại của riêng nàng. Ở vào trạng thái đau đớn đến cùng cực, người ta mất luôn ý thức về thực tại. Lời độc thoại này có tác dụng thể hiện trạng thái tâm lí ấy. Và giọng thơ từ chỗ đau đớn bỗng oà thành tiếng khóc: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! – Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !”

  1. Bình luận về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích

Gợi ý : Nguyễn Du đã bộc lộ một thẩm mỹ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ tinh xảo, điêu luyện .Thuý Kiều nhờ em gái là Thuý Vân thay mình lấy một người mà em chưa thực quen biết. Dù Thuý Vân tính tình đơn thuần thế nào thì nhu yếu này cũng quá ư bất ngờ đột ngột, bởi đây là chuyện quan hệ đến cả một đời người. Vì thế lời của Kiều vừa trông cậy, vừa nài ép. Để biểu lộ sắc thái này, Nguyễn Du đã rất công phu trong lựa chọn từ ngữ trong ngôn từ nhân vật : “ cậy ”, mời em “ ngồi lên cho chị lạy ”, rồi sẽ “ thưa ”, …

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Kiều dùng “ cậy ” mà không dùng “ nhờ ” vì “ cậy ” có ý nói khó, vật nài buộc người khác phải nghe mình, không cho khước từ ; còn nhờ thì tuỳ ý, không có ý nài ép. Kiều dùng “ chịu lời ” mà không nói “ nhận lời ”. “ chịu lời ” là nhận lời thao tác không do mình tự nguyện, hoặc một việc khó chối từ. Chữ “ có ” ở đây tuy được dùng với ý ướm hỏi cho lịch sự và trang nhã, nhưng thực ra là ép buộc : “ Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em ”. Hai chữ “ mặc em ” nói rõ cái ý ép buộc .

  1. Bi kịch tình yêu của Kiều được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Gợi ý :

Bi kịch ở đây được hiểu là tâm trạng của một người biết rất rõ, ý thức rất rõ về nỗi đau khổ của mình mà không có cách nào để giải thoát được. Với Thuý Kiều, bi kịch tình yêu là nỗi đau về sự tan vỡ tình yêu hoàn toàn do khách quan đưa lại. Kiều thiết tha yêu Kim Trọng và mong muốn tình yêu được đẹp mãi, đã thề nguyền kết duyên trăm năm nhưng vì để cứu gia đình mà nàng phải phụ tình Kim Trọng. Biết rằng như thế sẽ rất đau khổ, trao duyên cho em cũng chỉ là một cách an ủi phần nào tình yêu với Kim Trọng mà thôi. Biết trước đau khổ mà không có cách nào giải thoát. Đó là nguồn cơn tâm trạng bi kịch của nhân vật trong đoạn trích.

  1. Bình luận nhan đề

Gợi ý :Chữ duyên theo giáo lí của nhà Phật là nguyên do tạo ra số phận, sau này được hiểu rộng hơn là sự định sẵn từ kiếp trước cho tình cảm của hai người ( thường là tình cảm vợ chồng ) .Duyên là một khái niệm có đặc thù vô hình dung, do đó trao duyên là một điều khó khăn vất vả, nhất là với những người có đời sống nội tâm thâm thúy như Thuý Kiều. Trao duyên là một sự hi sinh rất lớn. Trước đó Kiều đã hi sinh tình yêu để làm bổn phận người con hiếu thảo : “ Làm con trước phải đền ơn sinh thành ”. Nay, trao duyên cho Vân là hi sinh tình yêu của mình vì niềm hạnh phúc của người mà mình yêu. Do vậy, hành vi của Kiều làm cho hình tượng nhân vật trở nên cao quý hơn, xinh xắn và đáng khâm phục hơn .Đầu tiên trước khi hoàn toàn có thể viết được một bài nghiên cứu và phân tích hoàn hảo thì không hề thiếu được việc có một dàn ý cụ thể để dễ hiểu để tất cả chúng ta hoàn toàn có thể làm bài tốt hơn. Mình sẽ hướng dẫn những bạn lập dàn ý nghiên cứu và phân tích đoạn trích “ Trao duyên ”

II. Lập Dàn ý trao duyên:

1. Mở Bài

Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều : Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc bản địa danh nhân văn hóa quốc tế, Truyện Kiều được xem là siêu phẩm của nền văn học được dịch ra nhiều thứ tiếng .Nói về đoạn trích Trao duyên : vị trí nằm ở đâu, gồm bao nhiêu câu

2. Thân bài

2.1 Lời nhờ cậy và thuyết phục Thúy Vân của Thúy Kiều (12 câu thơ đầu)

a. Hai câu đầu: Lời nhờ cậy của Thúy Kiều

* Lời lẽ trao duyên– Cậy : + Là một thanh trắc với âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói > < nhờ, mong ( thanh bằng )+ Cũng mang hàm nghĩa là trông mong, trợ giúp nhưng cậy còn mang thêm sắc thái hàm ý về sự hy vọng tha thiết, sự gửi gắm đầy tin yêu– Chịu : Nài ép, bắt buộc, không hề không nhận > < nhận : mang tính tự nguyện* Cử chỉ trao duyên– Lạy, thưa :+ Là thái độ kính cẩn, sang trọng và quý phái với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn .* Lời lẽ trao duyên– Cậy : + Là một thanh trắc với âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói > < nhờ, mong ( thanh bằng )+ Cũng mang hàm nghĩa là trông mong, giúp sức nhưng cậy còn mang thêm sắc thái hàm ý về sự hy vọng tha thiết, sự gửi gắm đầy tin cậy– Chịu : Nài ép, bắt buộc, không hề không nhận > < nhận : mang tính tự nguyện* Cử chỉ trao duyên– Lạy, thưa :+ Là thái độ kính cẩn, sang trọng và quý phái với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn .+ Hành động của Kiều tạo ra sự trang nghiêm, thiêng liêng cho điều sắp nói ra→ Qua cách nói biểu lộ sự mưu trí, khôn khéo của Thúy Kiều

→ Sự tài tình trong cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du

b. Mười câu tiếp: Lí lẽ trao duyên của Kiều.

* 4 câu thơ tiếp : Kể về mối tình với chàng Kim– Thành ngữ : “ Giữa đường đắt gánh tương tư ”– Hình ảnh : “ Mối tơ thừa ”– Hành động : “ Quạt ước, chén thề ”→ Bằng những thành ngữ, những điển tích, những ngôn từ giàu hình ảnh đã vẽ nên một mối tình nồng nàn nhưng mong manh, dang dở và đầy xấu số của Kim – Kiều* 6 câu thơ sau : Những lí do khiến Kiều trao duyên cho em .– Gia đình Kiều gặp biến cố lớn “ sóng gió bất kể ”– Kiều buộc phải chọn 1 trong 2 con đường là “ hiếu ” và “ tình ”, Kiều đành chọn hi sinh tình .→ Kiều đã gợi ra tình cảnh ngang trái, khó xử của mình để Vân đồng cảm .– “ Ngày xuân em hãy còn dài ”→ Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước– “ Xót tình máu mủ thay lời nước non ”→ Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột thịt .– Thành ngữ “ Thịt nát xương mòn ” và “ Ngậm cười chín suối ” : nói về cái chết đầy mãn nguyện của Kiều→ Kiều viện đến cả cái chết để bộc lộ sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời⇒ Cách lập luận rất là ngặt nghèo, thấu tình cho thấy Thúy Kiều là người tinh tế tinh xảo, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa .

♦ Tiểu kết:

– Nội dung : 12 câu thơ đầu là diễn biến tâm trạng phức tạp của Kiều trong lúc nói lời trao duyên

– Nghệ thuật: Sử dụng các điển tích, điển cố, các thành ngữ dân gian, ngôn ngữ tinh tế, chính xác giàu sức thuyết phục, lập luận chặt chẽ.

2.2 Kiều trao kỉ vật và dặn dò Vân (14 câu thơ tiếp theo)

a. Sáu câu đầu: Kiều trao kỉ vật

– Kỉ vật ; Chiếc vành, bức tờ mây→ Kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ niềm hạnh phúc .– Từ “ giữ – của chung – của tin ”+ “ Của chung ” là của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa+ “ Của tin ” là những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim – Kiều : mảnh hương, tiếng đàn→ Thể hiện sự giằng xé trong tâm trạng Thúy Kiều. Kiều chỉ hoàn toàn có thể gửi gắm mối duyên dang dở cho Vân chứ không hề trao hết tình yêu mặn nồng xưa kia giữa nàng và Kim Trọng .

b. Tám câu thơ tiếp: Lời dặn dò của Kiều

* Kiều dự cảm về cái chết– Hàng loạt những từ ngữ, hình ảnh gợi về cái chết : hiu hiu gió, hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, người thác oan→ Dự cảm không lành về tương lai, sự vô vọng tột cùng. Kiều tưởng tượng ra cảnh mình chết oan, chết hận. Hồn không sao siêu thoát được bởi trong lòng đang nặng lời thề ước với Kim Trọng→ Ta thấy được sự đau đớn, đầy vô vọng của Kiều, đồng thời bộc lộ tấm lòng thủy chung một lòng hướng về Kim trọng của Kiều* Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân“ Đền nghì trúc mai ” : Đền ơn đáp nghĩa .– “ Rưới xin giọt nước ” : Tẩy oan cho chị .→ Nỗi bứt rứt, dằn vặt trong lòng Kiều. Lúc này, Kiều như càng nhớ, càng thương Kim Trọng hơn khi nào hết .

♦ Tiểu kết:

– Nội dung : 14 câu thơ tiếp là một khối xích míc lớn trong tâm trạng Thúy Kiều : trao kỉ vật cho em mà lời gửi trao chất chứa bao đau đớn, giằng xé và chua chát .

– Nghệ thuật: Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm, độc thoại nội tâm.

2.3.Tám câu thơ cuối: Kiều trở về thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng

– Hình thức : Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại– Tâm trạng : Nàng ý thức rõ về cái hiện hữu của mình : “ trâm gãy gương tan ”, “ tơ duyên ngắn ngủi ”, “ phận bạc như vôi ”, “ nước chảy hoa trôi lỡ làng ”→ Hình ảnh gợi tả số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc nghĩa, lênh đênh trôi nổi– Nghệ thuật trái chiều : quá khứ > < hiện tại→ Khắc sâu nỗi đau của Kiều trong hiện tại .– Các hành vi

+ Nhận mình là “người phụ bạc”

+ Lạy : cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu+ Hai lần gọi tên Kim Trọng : tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng .→ Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức quyết tử cao quý

♦ Tiểu kết

– Nội dung : Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hường về tình yêu của mình và Kim Trọng .– Nghệ thuật : Sử dụng từ ngữ biểu cảm, thành ngữ, câu cảm thán, những điệp từ .

3. Kết bài

– Khái quát nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của đoạn trích– Trình bày tâm lý, cảm nhận của bản thân : Đây là trích đoạn hay và cảm động nhất của Truyện Kiều, đem lại nhiều xúc cảm nơi người đọc

B. 3 bài văn mẫu phân tích trao duyên

Phân tích trao duyên bài 1

Nguyễn Du là nhà thơ tài hoa, nỗi lạc của dân tộc bản địa Nước Ta. Ông đã để lại vô vàn tác phẩm xuất sắc điển hình nổi bật trong đó là tác phẩm “ Truyện Kiều ”. Qua tên gọi “ Đoạn Trường Tân Thanh ” là tiếng khóc, tiếng kêu xé lòng của những số phận tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến mục ruỗng thối nát xưa kia. Tác giả đã khắc họa được hết hình ảnh Kiều một cách vô cùng tinh xảo qua đó cuộc sống nhân vật Kiều được tạo ra một cách vô cùng éo lo và khốn khổ. Điều đó biểu lộ rõ nét nhất ở đoạn trích Trao duyên, khi mà Kiều phải đau khổ trao đi niềm hạnh phúc riêng tư thầm kín. Có lẽ đây là cảnh tượng đau lòng chưa từng thấy trong nền văn học quả đât .

Nội dung khái quát của đoạn trích là tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều. Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha và em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan lại đòi đút lót “có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng? Thúy Kiều hết sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Nguyễn Du đã dựng lại cốt truyện vô cùng sống động dựa vào những chi tiết của truyện Thanh Tâm Tài Nhân. Khi bắt đầu vào cuộc nói chuyện Kiều không đi vào ngay câu chuyện chính mà lại tạo ra một không khí vô cùng trang nghiêm.

“ Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân ” thì thấy chị mình đang thổn thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng “ để lòng thì phụ tấm lòng với ai ”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em :

“Cậy em, em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa,

Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc, em’’.

Cái tinh tế của Nguyễn Du nằm ở chỗ, ông đã không sử dụng từ nhờ mà lại dùng từ “Cậy”, một từ thể hiện niềm tin tuyệt đối của bản thân  mình đối với người được nhờ mà người ấy không thể thoái thác được. Chưa dừng lại ở đó tác giả tiếp tục sử dụng từ “lạy” một từ mà chẳng bao giờ người chị lại dành cho em mà lại còn chỉ để trao duyên của mình. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào! Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:

“Kể từ khi gặp chàng Kim 

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kì

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.

Kiều rất nhanh gọn kể lại những vấn đề xảy ra với mình mà Thúy Vân cũng đã tận mắt chứng kiến và biết từ trước, Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh Chuyện thề nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của mái ấm gia đình. Nhưng có một chi tiết cụ thể mà một người giản đơn như Thúy Vân không khi nào biết được :

“Hữu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.

Qua câu thơ thì cũng hoàn toàn có thể cảm nhận được sự đay nghiến của tác giả Nguyễn Du dành cho xã hội phong kiến xưa khi mà chữ hiếu và tình yêu không hề đặt lên bàn cân mà so sánh được. Một xã hội mà rất là tàn tệ gian ác khi mà bắt con người lựa chọn những lựa chọn không hề làm khác thậm chí còn khiến cho bản thân đau khổ tột độ. Và Thúy Kiều cũng không thoát khỏi số phận quái ác như vậy khi mà nàng đã phải từ bỏ tình yêu xinh xắn của mình để lựa chọn báo hiếu cho cha. Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không sống sót trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng .

“Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non

Chị dù thịt nát xương mòn

 Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.

Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Những lời nó thiêng liêng này xuất phát từ tận đáy lòng mà nàng muốn gửi đến cho Kim Trọng một phần vì khá lo cho chàng một phần cũng mong muốn chàng có thể tìm kiếm được hạnh phúc trong sự tan vỡ này. Trong khi bản thân mình đau khổ không lối thoát, thương tích đầy mình vậy mà nàng vẫn có thể suy nghĩ cho người khác. Qủa thật là một cô gái hết sức lương thiện, một cô gái mà xứng đáng được hưởng những hạnh phúc, những điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời này. Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỉ vật giữa nàng và chàng Kim:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung”.

Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỉ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc vành với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau đớn đến tột độ. Mỗi một lời nàng nói có thể hiểu được sự đau khổ tột độ nên mới thốt ra  được câu nói nặng như chì như thế. Qủa thật là một cô gái hết sức đáng thương. Nàng trao duyên, trao lại những kỉ vật cho em mà trong lòng tràn đầy những uất hận, lòng nghẹn lại thầm trách xã hội sao mà lại vô tình đến thế. Một lời tố cáo vô cùng hùng hồn vang thấu trời xanh của Nguyễn Du.

Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn ki vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này :

“Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy, so tơ phím nàv.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai”.

Có lẽ rằng tâm hồn của Kiều đã chết khi phải đưa ra sự lựa chọn. Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ bóng ma nàng sẽ hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng, do đó dẫu “ thịt nát xương mòn ” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ ngọn cỏ lá cây ”, với “ hiu hiu gió … ”. Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả thiên hà. Chìm trong sự đau đớn tột cùng của tình yêu, nàng quên mất trước mặt mình là Thúy Vân mà thút thít với Kim Trọng .

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi!

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”.

Có thể cảm nhận được mỗi một lời nàng nói đều đau đến xé lòng. Đứng trước nốt đau tan nát trái tim này nàng chỉ trách mình là “ phận bạc ”, là “ hoa trôi ”, những hình ảnh đó khiến tất cả chúng ta cũng có những động lòng thương cảm. Trong lòng chứa đầy vết thương lòng là vậy nhưng mỗi khi nghĩ đến Kim Trọng nàng luôn mặc cảm dằn vặt chính bới chính nàng đã phụ chàng. Tất cả những điều đó càng khiến nàng chìm vào những đau khổ của sự tan nát tình cảm .

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong “Đoạn  trường tân thanh”. 
Bằng tất cả sự tinh tế Nguyễn Du đã cảm thấy trong truyện Thanh Tâm Tài Nhân một hình ảnh hết sức cảm động vì vậy ông đã dựng lại đoạn trao duyên một cách hết sức tình cảm và trải đầy nỗi lòng. Tác giả đã đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì đau đớn.  Sự miêu tả tài tình của tác giả khiến chúng ta có thể cảm nhận được Thúy Kiều là một người lương thiện, luôn suy nghĩ cho người khác mà hi sinh đi bản thân mình. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường chủ nhân: khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo.

Phân tích trao duyên bài 2

Tác giả Nguyễn Du là một đại thi hào nổi tiếng của nền văn học nước nhà. Ông là cây bút sáng chói góp phần cho dòng chảy văn học nước nhà những bước chuyển mình vàng son. Nguyễn Du cùng với 1 số ít tác giả nổi tiếng khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, … trong thời kì văn học trung đại tạo thành những tượng đài thơ ca người người kính phục của nền văn học nước nhà. Một trong những tác phẩm làm ra tên tuổi của Nguyễn Du là tập truyện viết bằng chữ Nôm “ Đoạn trường tân thanh ” hay còn gọi ngắn gọn bằng cái tên “ Truyện Kiều ”. Đoạn trích “ Trao duyên ” là một trong những đoạn tiêu biểu vượt trội trong tập truyện, biểu lộ sự dằn vặt, nỗi lòng đau đớn của nàng Kiều khi buộc phải bán mình chuộc cha, đành nhờ cô em Thúy Vân trả nghĩa cho chàng Kim Trọng .Truyện Kiều được coi là một siêu phẩm văn chương của trái đất được viết dưới dạng truyện kể bằng thơ, lấy diễn biến của Thanh Tâm Tài Nhân người Trung Quốc. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không hề được biết đến cho tới khi Nguyễn Du khai thác diễn biến thông thường ấy thành tiếng kêu ai oán đến xé lòng, một bản sầu ca não nề của người con gái hồng nhan bạc phận. Đoạn trích “ Trao duyên ” từ câu 723 đến câu 756 trong phần “ Gia biến và lưu lạc ”, tái hiện lại cuộc trò chuyện của chị em Thúy Vân Thúy Kiều. Gia đình gặp hoạn nạn, Thúy Kiều đành bán mình chuộc cha, trong tình cảnh đó, biết mình không hề giữ trọn lời thề thủy chung với Kim Trọng, nàng Kiều đành phải trao lại tấm chân tình cho Thúy Vân, nhờ em làm tròn bổn phận, giữ trọn lời hứa của mình với tình nhân. Mở đầu đoạn trích là hai câu thơCậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

Từ lúc mở màn Nguyễn Du đã gây cảm xúc khó hiểu cho người đọc khi để cho Thúy Kiều ở vị trí phía dưới, trái ngược với cách xưng hô “ chị, em ”. Từ “ cậy ” đặt ở đầu câu chứ không phải từ nhờ tạo một cảm xúc tiến thoái lưỡng nan và niềm tin tuyệt đối của người chị dành cho người em, một niềm tin không hề thoái thác. Vốn dĩ, Thúy Kiều xét theo vai vế là chị của Thúy Vân, sẽ không cần “ thưa ” hay “ lạy ”, nhưng trong thực trạng ấy, nàng đồng ý đặt mình vào vị trí của người đi nhờ vả, van xin, chỉ với mục tiêu giữ trọn lời hứa của mình với chàng Kim Trọng. Từ “ em ” được nhắc lại hai lần, đi kèm những động từ mạnh “ lạy ”, “ thưa ” “ cậy ” mở ra một nỗi lòng chua xót, báo hiệu tương lai mịt mù, tăm tối, phải nhờ vả, lệ thuộc, mưu cầu lòng thương của người khác. Thúy Vân bất đắc dĩ lại trở thành bề trên “ ngồi lên ” để chị lạy, thưa đã một lần nữa nhấn mạnh vấn đề kiếp người trôi nổi, bấp bênh, lỡ làng duyên phận của nàng Kiều. Kiều dùng tổng thể những gì chân thành tha thiết nhất của mình để van lơi em, đồng thời đặt lên vai em sức nặng của sự tin yêu, trông cậy. Đối với Kiều giờ đây chẳng ai hoàn toàn có thể tin cậy được như Thúy Vân tình chị em được mang ra để bấu víu, Vân trở thành niềm hy vọng ở đầu cuối của Kiều khi nàng buộc phải rời xa mái ấm gia đình, thất hẹn với tình nhân .Thúy Kiều bày đầu bày tỏ với người em bằng tấm lòng đang bị tổn thương, rỉ máu :

Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Đến đây người đọc có lẽ rằng phần nào hiểu được từ “ cậy ” mà khởi đầu tác giả dùng thực ra là một lời phó thác dành cho Thúy Vân, một lời nhờ cậy không hề khước từ buộc Thúy Vân phải gật đầu. Thúy Kiều mang trong mình thân phận của một người chị cả trong mái ấm gia đình nên nàng cần có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ những người trong mái ấm gia đình thoái khỏi thực trạng khó khăn vất vả như giờ đây. Nàng gật đầu bán mình chuộc cha, vì chữ hiếu quên thân, gật đầu lỡ duyên với người thương chứ không hề phụ lòng cha mẹ. Người con gái “ đứt gánh tương tư ” ấy chẳng nỡ làm Kim Trọng đau lòng, đứng trước chữ tình và chữ hiếu, nàng chỉ còn cách mong em gái Thúy Vân hoàn toàn có thể giúp mình liên tục mối duyên đứt quãng. Hai tiếng “ mặc em ” giống như một sự phó thác nghĩa vụ và trách nhiệm bằng tấm lòng tha thiết, buồn bã. Kiều thủ thỉ tâm sự với Vân về mối tình nồng nàn của minh với chàng Kim :

Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Qua câu thơ trên hoàn toàn có thể cảm nhận hết được sự thống khổ của Thúy Kiều khi nhớ lại những kỉ niệm khi xưa so với chàng Kim. Có lẽ riêng với bản thân Thúy Kiều thì mối tình so với Kim Trọng là một tình yêu đẹp tươi nhất, nồng nàn nhất, đáng nhớ nhất nhưng so với Thúy Vân mối tình chính là sự nghĩa vụ và trách nhiệm sự ủy thác của chị gái dành cho mình. Thúy Kiều là một người mưu trí nàng hiểu hết được những sự do dự, khó xử trong lòng em gái nên quyết định hành động chọn cách tâm tình với em từ những kỉ niệm của mình để em gái cảm thấy thân mật, cảm thông. Từ buổi gặp gỡ đến hôm thề nguyện đính ước. hình ảnh “ quạt ước ”, “ chén thề ”, nàng muốn chứng minh và khẳng định tình cảm giữa hai người là tình cảm thật lòng, thâm thúy. Kiều luôn tỏ ra mình không sao nhưng thực ra trao duyên cho em mà lòng đau như cắt, vì bản thân nàng đâu hề muốn phải sinh ra nông nỗi ấy. Cùng với sự hụt hẫng, Kiều chỉ biết trải lòng về những khó khăn vất vả bất chợt ập đến mái ấm gia đình, buộc nàng vào tình thế bất đắc dĩ. “ Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai ”, một câu nói vừa tự nhủ lòng mình, vừa là cái cớ của Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân. Bản thân Kiều không hề muốn hai chị em phải đương đầu với nhau trong tình thế khó xử, nhưng chị đã vì cha mẹ bán mình, thì em cũng nên vì chị mà giúp chị tiếp nối đuôi nhau tơ duyên. Người đọc có vẻ như còn cảm thấy một khao khát nhỏ nhoi trong lòng Thúy Kiều, khao khát sống toàn vẹn, tình nghĩa, nhưng trớ trêu thay, cuộc sống xấu số lại không được cho phép nàng thực thi mong ước nhỏ nhoi ấy. Kiều cũng đã lựa chọn cách tinh xảo nhất để cậy nhờ em gái mình :

Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương tan
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Sự thật là cả Thúy Kiều và Thúy Vân đều đang đến tuổi cập kê, Kiều đã nhanh ý chọn điểm này để đánh vào tâm lí Thúy Vân trong chuyện nhờ cậy Vân tiếp nối đuôi nhau mối tình đang còn dang dở của mình. Xét về lý, tình ruột rà máu mủ cũng là một nguyên do hài hòa và hợp lý để Thúy Vân có nghĩa vụ và trách nhiệm thực thi những mong ước dở dang của chị. Đồng thời, nàng Kiều cũng bộc lộ sự chua xót, đắng cay khi nhắc đến cái chết “ Chị dù thịt nát xương tan / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây ”. Có lẽ khi Kiều quyết định hành động lựa chọn con đường bán mình chuộc cha cũng đã có những dự cảm không lành về tương lai mịt mù tăm tối của mình. Nếu không có những chuyện tai bay vạ gió, không có những uẩn khúc mái ấm gia đình thì có lẽ rằng giờ đây, Kiều đã được niềm hạnh phúc với tình yêu của mình. Từng lời nói của nàng càng khiến người ta thương cảm cho số phận nghiệt ngã của mình, một số phận phải chịu sự chia lìa với mái ấm gia đình, phải từ bỏ tình yêu cá thể chẳng có gì đau khổ hơn thế nữa. Trong thực trạng ấy, nàng chỉ biết nhờ đến em, để sau này khi “ thịt nát xương tan ”, nàng vẫn hoàn toàn có thể ngậm cười nơi chín suối, nhìn em mình và tình nhân được niềm hạnh phúc vẹn toàn, được thực thi toàn vẹn lời hứa với Kim Trọng. Trao đi mối duyên mà nàng hằng khao khát, nâng niu là điều đau đớn đến tột cùng, nhưng Kiều đã đồng ý chọn chữ hiếu để cứu cha, chỉ một lòng mong em hãy đồng ý chấp thuận giúp nàng tiếp nối đuôi nhau mối duyên tình để không phụ lòng Kim Trọng .Trao cho em những vật đính ước, Kiều thủ thỉ tâm tình với em những lời chân thành nhất :

Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền, những kỉ vật của mối tình đầu thanh thuần, ngây thơ .

Những kỉ vật được coi là vật định tình của nàng với Kim Trọng giờ đây nhìn lại sao tránh khỏi sự đau lòng mất mát. Nhưng ngay lúc này đây Kim Trọng lại chẳng biết gì về sự tình bởi chàng đang ở xa  không hề hay biết tin tức gì, bản thân chuẩn bị một cuộc đời lưu lạc, chẳng rõ tương lai đi đâu về đâu, sự xót xa, đau đớn lại dâng đến tận cùng.Những kỉ vật ấy thật khó lòng buông bỏ, vì thế mà câu “Duyên này thì giữ, vật này của chung” có phần lạ kì, ngập ngừng. Duyên đã trao đi rồi nhưng hiện vật thì chẳng nỡ lòng nào chối bỏ, nên Kiều vẫn muốn giữ đó làm “của chung”, của cả hai chị em. Có thể nhiều người sẽ nghĩ Thúy Kiều ích kỉ vì khi đã quyết định trao duyên đi mà trong lòng vẫn còn muốn giữ lại nhưng cũng dễ hiểu thôi bởi chẳng ai có thể đồng ý san sẻ tình yêu của mình với một người khác. “Dù em nên vợ nên chồng / Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”, một câu dặn dò của Thúy Kiều với em gái, rằng dù em thay chị kết duyên cùng Kim Trọng, nhưng bản thân chị là người yêu của chàng, chỉ mong đến ngày hạnh phúc, em đừng quên tấm lòng chị, số phận bạc bẽo đưa đẩy chị đến đường cùng chứ thật tâm chẳng hề muốn rời xa. Xét trên phượng diện tình cảm sự ngập ngùng xen lẫn một chút ích kỉ gì đó của Thúy Kiều lại hết sức dễ hiểu bởi lẽ Kiều cũng chỉ bắt nguồn từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng người con gái lần đầu biết yêu mà lại buộc phải chia lìa. Chỉ còn vài kỉ vật làm của tin, làm hiện vật chứng minh tình cảm, chẳng ai cam tâm trao cho người khác, kể cả đó là ruột thịt, máu mủ.

Trao lại kỉ vật cho em nhưng tâm hồn Kiều vẫn không hề nguôi ngoai, thật tâm vẫn chưa hề quên đi Kim Trọng :

Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan.

Câu nói tràn trề sự oán hận não nề của Kiều so với một xã hội phong kiến đầy bất công đã đẩy một người con gái, không hề quay trở lại với đời sống thông thường, không được sum vầy với mái ấm gia đình. Sống trong một xã hội bất công, nơi con người chuẩn bị sẵn sàng hãm hại nhau vì đồng xu tiền, Kiều không dám nghĩ đến việc mưu cầu cho niềm hạnh phúc cá thể mà chỉ dám mong được tận mắt chứng kiến niềm hạnh phúc của em gái và tình nhân. Nhưng có lẽ rằng nàng đã dồn toàn bộ sự bế tắc, não nền trong câu nói “ Lò hương, ngọn cỏ lá cây, hiu hiu gió, hồn, nát thân, cách mặt khuất lời, người thác oan ”, hàng loạt những từ mang âm hưởng cô tịch, chết chóc như một vết cứa vào lòng người đọc. Chỉ khi bị dồn đến mức đường cùng như thế nào mà một người con gái tuổi mười tám, một độ tuổi xanh non mơn mởn lẽ ra phải yêu đời nhưng lại đã nghĩ đến cái chết thảm kịch, cái chết oan khuất, bế tắc. Nhưng bản thân người con gái ấy lại chỉ mong mỏi được thanh thản, hoàn toàn có thể giũ bỏ hết tình duyên dương thế. Đau xót thay cho một số phận tài sắc vẹn toàn nhưng sớm rơi vào lam lũ, thảm kịch, gật đầu bán mình chuộc cha nhưng vẫn nghĩ đến nghĩa tình, thề hẹn. Trong khi đang tâm sự với Thúy Vân, Kiều cũng không quên gửi gắm đến Kim Trọng những dòng đầy tha thiết và đau lòng :

Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.

Nhìn vẻ bề ngoài giống như nàng đang thật sự tâm sự với Kim Trọng nhưng không đó là những dòng độc thoại bởi lẽ người mà nàng đem lòng yêu thương hiện giờ không ở đây, đâu hay biết gì tình thế của nàng hiện tại. Nàng ý thức được số phận bạc bẽo bằng những điển cố “gương gãy”, “trâm tan”, những hình ảnh gợi sự chia lìa đôi lứa. Cho đến cuối cùng mục đích của cuộc trao duyên này có lẽ cũng là do mối tình nặng nghĩa của Kiều đối với Kim Trọng chưa thể kết thúc, nên trong những lời cuối gửi đến chàng, Kiều luôn muốn nhắc lại những hoài niệm tươi đẹp của hai người trước khi buộc phải tự mình cắt đứt mối duyên chẳng được bao lâu. “Muôn vàn ái ân” nay đã trở thành quá khứ, sự thật giờ chỉ còn “tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”. Song song với sự nối tiếc của tình yêu Kiều cũng khóc thương cho số phận hẩm hiu của mình Phận nữ nhi chân yếu tay mềm trong xã hội xưa đã bị rẻ rúng, giờ đây lại còn “bạc như vôi”, “nước chảy, hoa trôi lỡ làng”, sự bất lực, phó mặc số phận vì không có tiếng nói, không có quyền tự quyết định ếng gọi xé lòng ” Hỡi Kim Lang!” thay cho một lời than, tiếng khóc tức tưởi. Cách gọi “lang” là cách gọi chồng trong xã hội xưa, cho thấy tình cảm của Thúy Kiều vô cùng chân thành, thủy chung, dù có bất kì hoàn cảnh nào thì lời thề duyên lứa của nàng đêm ấy vẫn vẹn nguyên. Nhiều người đọc lại cảm thấy sự phi lí bởi lẽ Thúy Kiều đã trao duyên cho Thúy Vân nhưng vẫn gọi bằng “lang” Phải chăng, trong dòng hồi tưởng về những giây phút ở cạnh nhau, Thúy Kiều được tạm quên đi những đớn đau nàng phải đối mặt, nhưng cảm giác tội lỗi của mình với chàng Kim, chỉ còn nàng với chàng, hai người yêu nhau say đắm, là vợ chồng. Câu gọi bật ra vừa để thể hiện ước nguyện được hạnh phúc của Thúy Kiều, vừa thể hiện tấm lòng nặng tình nặng nghĩa của nàng, một nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong xã hội xưa.

Đoạn trích “ Trao duyên ” có lẽ rằng là phần thành công xuất sắc nhất của tác giả trong tổng thể và toàn diện tác phẩm, bởi lẽ nó như thể hiện hết được từng cung bậc cảm hứng mà nàng Kiều đã phải trải qua từ lúc quyết định hành động bán mình để cứu cha cho đến khi phải rời bỏ người mình yêu thương. Một người phụ nữ yêu hết mình, thủy chung da diết, lại khôn khéo, tinh tế nhưng bạc mệnh, long đong. Bằng bút pháp nghệ thuật và thẩm mỹ khai thác tâm ý nhân vật, để nhân vật tự thể hiện xúc cảm qua hành vi, cử chỉ, tác giả đã truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho thảm kịch tình yêu tan vỡ của nàng Kiều. Nhờ sự tài tình của tác giả, mà khiến người đọc hoàn toàn có thể cảm thông được số phận lênh đênh trôi dạt của Thúy Kiều. Qua “ Trao duyên ”, Nguyễn Du cũng gửi gắm sự tôn trọng, nâng niu những con người đẹp, biết trọng chữ hiếu, vẹn chữ tình, đồng thời lên án xã hội bất công, đen bạc đã đẩy con người vào cửa ải chia lìa, chia cắt niềm hạnh phúc lứa đôi của những người xứng danh được hưởng niềm hạnh phúc .

Phân tích trao duyên bài 3

Đối với toàn bộ mọi người khi nhắc đến cái tên “ Truyện Kiều ” có lẽ rằng chẳng cảm thấy lạ lẫm nữa. Trao duyên ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu vượt trội của thiên siêu phẩm này. Nhận xét về “ Trao duyên ”, Tản Đà từng viết : “ Trong cả quyển Kiều, văn tả tình không mấy đoạn dài hơn như vậy. Đoạn này thật lâm ly, mà như thế mới biết hết tình sự ” .

 “Trao duyên” là đoạn thơ bắt đầu từ câu 723 đến câu 756 của “Truyện Kiều”. Đoạn trích đã khắc họa những tâm trạng đớn đau, giằng xé của Thúy Kiều khi nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng để làm trọn chữ “tình”. Ngay từ nhan đề, đoạn trích đã gây nên sự tò mò cho bạn đọc. Chúng ta thường trao lại cho người khác vàng bạc, châu báu hay những thứ vật chất dễ nhìn thấy, dễ cầm nắm chứ mấy ai lại trao cho người khác thứ khó xác định, khó hình dung như trao duyên? “Duyên” là thứ con người khó có thể lí giải một cách thỏa đáng và nó rất khó để định hình. Vậy mà Thúy Kiều lại có hành động trao duyên, phải chăng có điều gì khó nói, uẩn khúc ở đây?

Trong cuộc sống này điều đau khổ nhất đó là từ bỏ người mà mình yêu thương, nhưng Thúy Kiều lại không hề làm khác. Nàng phải hi sinh tình cảm của riêng cá thể mình để bán thân mình chuộc cha và em trai. Đêm ở đầu cuối ở nhà trước khi theo Mã Giám Sinh ra đi, Thúy Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng :

“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Như mọi người cũng biết hai từ “ cậy ” và “ nhờ ” là hai từ đồng nghĩa tương quan, nhưng ở trường hợp này tác giả đã cho thấy sự tinh xảo của mình khi sử dụng từ “ cậy ” Ngoài ý nghĩa nhờ vả, mong ước người khác trợ giúp mình thì từ “ cậy ” còn hàm chứa cả lòng tin yêu, sự hy vọng vào người được nhờ vả của chủ thể. Thúy Kiều và Thúy Vân vốn là hai chị em ruột thịt nên Kiều đã dốc hết niềm tin của mình dành cho em gái để liên tục mối nhân duyên còn đang dang dở so với chàng Kim. Thanh trắc ở từ “ cậy ” khiến âm hưởng câu thơ trở nên nặng nề hơn, đồng thời cũng bộc lộ mức độ quan trọng của việc nhờ vả. Thông thường khi ai đó nhờ vả tất cả chúng ta tất cả chúng ta có quyền chấp hoặc khước từ nhưng trong trường hợp này Thúy Vân đã được đọc trong một trường hợp tiến thoái lưỡng nan không hề khước từ được. “ Chịu lời ” là một sự đồng ý bắt buộc, không còn sự lựa chọn nào khác. Biết mình đã khiến Thúy Vân rơi vào thực trạng khó xử và có lẽ rằng sẽ khiến Thúy Vân phải chịu nhiều thiệt thòi nên nàng đã dùng lễ nghi trang trọng để bày tỏ nỗi lòng của mình với em. “ Lạy ”, “ thưa ” là những lễ nghi trang trọng thường dùng so với những bậc bề trên trong xã hội phong kiến, đồng thời hành vi ấy cũng được dành cho những bậc ân nhân, những người có ơn so với mình. Ở đây Thúy Kiều đã coi Thúy Vân là người mà mình sẽ mang suốt cuộc sống này vì vậy việc sử dụng những từ ngữ trên là một điều rất là thông thường. Chuyện tình yêu của nàng đang tốt đẹp thì tự nhiên tai ương xảy đến :

“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

“ Gánh tương tư ” bị “ đứt ” giữa đường thật bất thần, đây là điều mà Thúy Kiều không ngờ tới. Hình ảnh “ gánh tương tư ” chính là ẩn dụ cho mối tình thắm thiết đó. Đêm nay chính là đêm ở đầu cuối mà nàng được ở nhà do tại từ ngày mai nàng đã trở thành vợ lẽ của người khác và phản bội lại mối tình tuyệt đẹp của bạn thân cũng như chính nàng đã đen bạc chàng Kim, toàn bộ những gì đẹp tươi đó chỉ còn trong quá khứ giờ đây không hề liên tục được nữa. Nhưng Thúy Kiều không phải là kẻ bạc tình, bạc nghĩa, nàng đã nhờ cậy Thúy Vân “ chắp mối tơ thừa ”. Có lẽ so với Thúy Kiều mối tình so với Kim Trọng được coi là một mối tình tuyệt đẹp nhưng so với Thúy Vân lại có sự độc lạ do tại Vân vốn chẳng có tí tình cảm gì so với chàng Kim cũng như không tương quan đến mối tình Kim – Kiều. Vậy mà giờ đây, nàng phải thay chị kết hôn với một người mà mình không hề yêu, thực trạng ấy thật khó xử. Dân gian có câu “ Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên ”, duyên là thứ con người không nên ép buộc nhưng Thúy Vân là người mà Thúy Kiều tin yêu nhất, ngoài Thúy Vân ra thì không ai hoàn toàn có thể giúp nàng chuyện này. Chỉ có Thúy Vân mới hoàn toàn có thể thay Kiều kết hôn cùng chàng Kim và cũng chỉ có Thúy Vân mới khiến nàng yên tâm gửi gắm mối duyên tình. Thúy Kiều để “ mặc em ” quyết định hành động nhưng thực ra là phó thác, ép buộc Thúy Vân phải đồng ý chấp thuận giúp sức. Nàng muốn Thúy Vân hãy dùng thứ keo gắn chắc được chế từ máu của loài chim loan để tiếp nối đuôi nhau mối duyên với Kim Trọng. Để tăng tính thuyết phục em gái Thúy Kiều còn đưa ra những lời lẽ vô cùng thuyết phục :

“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình hai lẽ khôn bề vẹn hai”

Thúy Kiều và Kim Trọng yêu nhau một cách rất là thông thường, giản dị và đơn giản, lãng mạng như bao cặp đôi khác. Họ thường hay Tặng nhau chiếc quạt vì chiếc quạt có hai mặt giấy hoặc lụa được dán áp sát vào nhau tượng trưng cho sự kết nối, hòa hợp, Thúy Kiều và Kim Trong cũng như vậy. Thúy Kiều đã Tặng Ngay Kim Trọng chiếc quạt trong đêm thề nguyền, ước hẹn. Điệp từ “ khi ” được lặp lại ba lần đã cho thấy tình cảm của họ thật khăng khít, sâu nặng. “ Quạt ước ”, “ chén thề ” gợi nhắc nàng nhớ đến đêm thề nguyền thiêng liêng ấy :

“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”

Lời thề “ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương ” đến nay đã không hề triển khai bởi “ sóng gió bất kể ”. Cuộc đời sóng gió đã đẩy Thúy Kiều vào trong thực trạng chỉ được một trong hai chữ hiếu hoặc chữ tình. Với sự hiếu thảo của một người con, Thúy Kiều đã hi sinh niềm hạnh phúc cá thể của mình để chọn chữ hiếu còn chữ tình thì nàng đã nhờ cậy Thúy Vân giúp sức mình. Trong một xã hội phong kiến mục ruỗng như thời xưa hiếm ai hoàn toàn có thể thực thi được cả hai chữ hiếu và chữ tình, Thúy Kiều cũng vậy nàng thật vị tha nàng chỉ một lòng tâm lý cho người khác còn mình thì gật đầu hết mọi sự đau khổ giày vò. Sự lựa chọn chữ hiếu của nàng cũng vô cùng hợp tình phải chăng vì nàng hiểu được công ơn dưỡng dục cả cuộc sống mà cha mẹ đã dành cho bản thân mình, nên nàng thà chịu đau khổ cũng muốn họ được niềm hạnh phúc đong đầy. Tha thiết mong ước Thúy Vân gật đầu lời khẩn cầu của mình, Thúy Kiều đã dùng những lí lẽ xác đáng :

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

Thúy Vân vẫn còn trẻ hơn Thúy Kiều rất nhiều, ngày xuân vẫn dài, và Thúy Vân là một lựa chọn vô cùng đúng mực để giúp Thúy Kiều hoàn thành xong được tâm nguyện. Hơn nữa, Thúy Kiều còn nhắc tới cả “ tình máu mủ ”, tình chị em ruột thịt thì làm thế nào Vân hoàn toàn có thể khước từ. Ở một quốc tế khác, Kiều vẫn vui tươi, mãn nguyện vì em đã “ chắp mối tơ thừa ” giúp mình. Tâm trạng ấy đã được Nguyễn Du biểu lộ qua thành ngữ “ thịt nát xương mòn ”, “ ngậm cười chín suối ” Mặc dù vẫn là một người con gái mười tám tuổi độ tuổi rất là tươi tắn yêu đời nhưng đã nghĩ đến việc ở chốn âm ti, cửu tuyền thì cũng được “ thơm lây ” với niềm hạnh phúc của Thúy Vân và Kim Trọng. Nhắc đến cái chết của chính mình, Thúy Kiều đau đớn biết nhường nào. Trong lòng đầy sự hụt hẫng nhưng Thúy Kiều cũng đành phải trao lại những kỉ vật tình yêu cho em mình .

“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”.

AI ai cũng nói mối tình đầu là mối tình xinh xắn nhất, khiến người ta nhớ lâu nhất nhưng ngược lại cũng khiến cho người ta đau khổ nhất. Qủa không sai mối tình đầu với Kim Trọng đẹp tươi, thắm thiết là thế mà giờ đây lỡ dở, làm thế nào Thúy Kiều không khỏi xót xa, dằn vặt ? Chiếc vòng xuyến đeo tay và tờ giấy ghi lời thề ước của hai người giờ đây đã trở thành kỉ vật chung của cả Thúy Kiều, Kim Trọng và Thúy Vân. Đó vốn là những kỉ vật gắn với những kỉ niệm riêng tư của chuyện tình Kim – Kiều nhưng vì thực trạng trớ trêu mà nó trở thành “ của chung ”. Hình như không hề kìm nén nỗi lòng được nữa nàng đã bật khóc nghẹn ngào, tiếng khóc của một người con gái mang số phận đáng thương. Nàng đau quặn lòng trao duyên cho người khác nhưng nàng đâu có muốn làm như vậy chỉ vì số phận đưa đẩy ép buộc nàng phải như vậy. Mảnh trầm hương đốt trong buổi thề nguyền và những tích tắc Kiều gảy đàn bên Kim Trọng giờ đây đã trở thành quá khứ – một quá khứ gợi bao nỗi xót xa, hụt hẫng. Lí trí và tình cảm đã có sự xích míc khi nàng muốn giữ lại chữ “ duyên ” cho bản thân mình làm của riêng. Nàng đã hi sinh niềm hạnh phúc cả đời của mình để chọn chữ hiếu như vậy thì nàng muốn giữ lại chữ duyên cũng rất là hợp tình hợp lý ? Nàng tưởng tượng ra viễn cảnh Thúy Vân và Kim Trọng “ nên vợ nên chồng ”, chung sống niềm hạnh phúc còn mình là “ người mệnh bạc ”, số phận đen bạc, không như mong muốn .Tuy rằng nàng đã trao duyên cho Thúy Vân nhưng trong lòng đầy những sự ám ảnh về cái chết

Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan”.

Lời nhắn nhủ của nàng khiến cho người khác cảm thấy thật nghẹn lòng trước sự đau lòng tức tưởi ấy. Nàng đã mường tượng ra thảm cảnh của mình nhưng ngay cả khi trở thành một linh hồn thì nàng vẫn mang theo lời thề nguyền cùng Kim Trọng. Đó là lời thề “ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương ” mà mặc dầu Thúy Kiều có phải “ nát thân bồ liễu ” cũng mong trả được nghĩa cho chàng Kim, dù tấm thân nữ nhi yếu ớt, mỏng dính không còn sống trên cõi đời thì nàng vẫn muốn mình giữ trọn lời thề của tình yêu đôi lứa. Do trần gian và cõi âm phủ “ cách mặt ”, “ khuất lời ” nên Thúy Kiều cũng chỉ xin em “ rảy ” giọt nước cho linh hồn oan khuất, đáng thương của mình. Thông thường, người ta thường “ rảy ” cả một chén nước nhưng nàng chỉ xin một giọt nước rất ít để rửa oan .

Nàng hiểu rõ bản thân mình hơn ai hết

“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.

Từng sự dằn vặt hiện rõ trong từng câu từng chữ. Qua đoạn trích trao duyên này Nguyễn Du đã cho người khác thấy nghệ thuật và thẩm mỹ miểu tả tâm lí của mình xuất sắc cỡ nào. Đoạn trích đã bộc lộ tấm lòng nhân đạo, biểu lộ sự đồng cảm thâm thúy của nhà thơ so với số phận những người phụ nữ .

Hi vọng bài tổng hợp phân tích đoạn trích Trao duyên trên có thể giúp mọi người hiểu rõ hơn về sự tài hoa lỗi lạc của đại thi hào Nguyễn Du

Bài viết liên quan :

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

YOUR EXISTING AD GOES HERE